Vào thời kỳ mà trang phục thể hiện sự giàu có, dòng dõi và sự tinh tế, các quý ông thuộc tầng lớp thượng lưu thường mặc một bộ ba món gồm áo khoác dài ôm sát, áo gile và quần ống rộng đến đầu gối, được làm từ len cao cấp, nhung, lụa gấm hoặc satin thêu. Quần ống rộng, được cài bằng khóa ở đầu gối, được mặc cùng với tất lụa và giày da cao gót. Tóc giả phủ phấn (perukes) là vật dụng thiết yếu cho những dịp trang trọng và vẫn còn được sử dụng tại triều đình ở Anh.

    Nhưng Benjamin Franklin là một người Mỹ, thể hiện gu thẩm mỹ giản dị của các thuộc địa nơi xã hội ít cấu trúc hơn so với nước Anh và hầu hết các quốc gia châu Âu. Phong cách thoải mái của Franklin trở thành dấu ấn đặc trưng trong con người ông và điều này thể hiện rõ nhất vào ngày 29 tháng 1 năm 1774, khi ông bị triệu tập trước Hội đồng Cơ mật để giải thích về việc công bố các bức thư riêng giữa phó thống đốc Massachusetts Thomas Hutchinson và Andrew Oliver, anh rể của ông kiêm thư ký thuộc địa người Anh. 

    Từ năm 1757, Franklin đã đại diện cho Massachusetts, Pennsylvania, New Jersey và Georgia tại London, vận động cho quyền lợi của họ và bảo vệ họ khỏi sự lạm dụng của các chủ đất và bộ trưởng chính phủ. Tuy nhiên, ông luôn nỗ lực tìm kiếm sự hòa giải giữa chính phủ Anh và các thuộc địa Bắc Mỹ, sau này ông nhớ lại: “Tôi thường gặp phải trường hợp, trong khi ở Anh người ta cho tôi quá giống người Mỹ, thì ở Mỹ người ta lại cho tôi quá giống người Anh.” Ông “lo sợ một cuộc chiến tranh với mẫu quốc… và đã cố gắng thực hiện mọi biện pháp trong khả năng của mình để ngăn chặn sự rạn nứt giữa hai nước, nhưng điều đó đã không xảy ra.”

Khi quan hệ giữa Anh và các thuộc địa xấu đi, Franklin vẫn giữ vững lập trường “kẻ thù không đội trời chung của chính quyền độc đoán và quyền lực vô hạn”. Tháng 9 năm 1773, ông đăng tải hai bài viết châm biếm hư cấu trên tờ Public Advertiser , trong đó ông ám chỉ cách chính phủ Anh đã xa lánh nước Mỹ. Mặc dù được trình bày dưới dạng bài viết nhại, nhưng nội dung của chúng lại khiến chính phủ Anh vô cùng tức giận. Tệ hơn nữa, ba tháng sau, trà của Anh bị những người yêu nước cải trang thành thổ dân da đỏ ném xuống cảng Boston.

    Cùng lúc đó, những bức thư của Hutchinson và Oliver trở thành một vụ bê bối công khai. Nhiều năm trước, hai người đàn ông này đã viết một loạt thư cho Thomas Whatley, trợ lý của Thủ tướng George Grenville, liên quan đến Đạo luật Tem và Đạo luật Townshend, các cuộc biểu tình bạo lực của người dân thuộc địa và cách chính phủ nên phản ứng. Bình luận của Hutchinson trong một bức thư rằng “phải có sự thu hẹp những gì được gọi là quyền tự do của người Anh” ở Mỹ và khẳng định của Oliver trong một bức thư khác rằng các quan chức của Hoàng gia nên được “độc lập ở một mức độ nào đó” khỏi Hội đồng Lập pháp Massachusetts do dân bầu ra đã càng làm tăng thêm sự phẫn nộ cho phe nổi dậy.

Những bức thư rơi vào tay Franklin, người đã đọc chúng và kết luận rằng chúng "đã đặt nền móng cho hầu hết, nếu không phải là tất cả, những bất bình hiện tại của chúng ta." Ông đã gửi những bức thư này cho Thomas Cushing, một thành viên của Ủy ban Liên lạc ở Boston, với chỉ thị rõ ràng rằng chúng phải được giữ bí mật vì sợ rằng chúng có thể gây ra "một cuộc bạo loạn với hậu quả tai hại." Tuy nhiên, những bức thư này đã được đăng tải trên các tờ báo thuộc địa vào giữa tháng 6 năm 1773, gây ra sự phẫn nộ ở cả các thuộc địa và Luân Đôn.

    Các thuộc địa đã đệ đơn lên Hội đồng Thương mại yêu cầu cách chức Hutchinson, trong khi ở Anh, cuộc tranh luận nổ ra gay gắt về việc ai đã làm rò rỉ những bức thư. Ban đầu, lỗi đổ dồn vào William Whatley, anh trai của Thomas Whatley, người đã nhận được những bức thư khi Thomas qua đời năm 1772. William phủ nhận cáo buộc và cho rằng John Temple, một viên chức hải quan, mới là người có lỗi. Temple thách đấu William. Whatley bị thương, nhưng cả hai người đều không hài lòng. Khi Franklin biết về cuộc đấu tay đôi và rằng nó sẽ lặp lại, ông "cho rằng đã đến lúc phải can thiệp" và đưa ra một tuyên bố công khai rằng chính ông là người đã nhận được những bức thư và gửi chúng đến Boston. 

    Vài ngày sau, Franklin được thông báo rằng đơn kiến ​​nghị của Massachusetts sẽ được Hội đồng Cơ mật xem xét. Nhưng Alexander Wedderbutn, Tổng luật sư người Anh, đã cố tình lợi dụng dịp này để bôi nhọ Franklin, buộc tội ông ta ăn cắp, kích động nổi loạn, làm ô nhục và là một kẻ nổi loạn dối trá đã lừa gạt người dân Mỹ. Trong một giờ, Franklin đứng im lặng và không biểu lộ cảm xúc, mặc một bộ vest nhung Manchester kiểu cũ, chịu đựng những gì mà một nhân chứng mô tả là "vượt quá mọi giới hạn và mức độ". Một người khác nói rằng đó là "như mọi người đều đồng ý... một lời lẽ phỉ báng thậm tệ". Tất cả các cáo buộc đều sai sự thật, ngoại trừ việc Franklin đã nhận được những bức thư đó.

    Đơn thỉnh nguyện bị bác bỏ. Franklin bị tước bỏ chức vụ Tổng quản lý bưu điện thuộc địa, và Quốc hội Anh thông qua Đạo luật Cưỡng chế, làm suy yếu thêm mối quan hệ với các thuộc địa. Franklin trở về Mỹ vào tháng 5 năm 1775; được bầu vào Quốc hội Lục địa; được chỉ định vào ủy ban chịu trách nhiệm soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập; và giữ chức Đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, nơi ông đàm phán Hiệp ước Liên minh công nhận Hoa Kỳ là một quốc gia độc lập và thiết lập liên minh quân sự chống lại Anh Quốc.

    Khi ký hiệp ước vào ngày 6 tháng 2 năm 1778, Silas Dean để ý thấy bộ quần áo cũ mà Franklin đang mặc, cũng chính là bộ đồ ông đã mặc ngày hôm trước. Khi được hỏi về điều đó, Franklin trả lời: “Để trả thù một chút. Tôi đã mặc chiếc áo khoác này vào ngày Wedderburn lăng mạ tôi ở White Hall.”