
Các nhà sử học vẫn tiếp tục tranh luận về việc có bao nhiêu người Mỹ vào năm 1776 ủng hộ hay phản đối độc lập. Bốn mươi năm sau khi Tuyên ngôn Độc lập được Quốc hội Lục địa lần thứ Hai thông qua, một trong những tác giả của văn kiện này và cũng là cựu Tổng thống Hoa Kỳ, John Adams, đã viết rằng một phần ba ủng hộ; một phần ba phản đối; và một phần ba còn lại thì “không mặn mà”. Tuy nhiên, Adams không đề cập đến Cách mạng Mỹ mà là Cách mạng Pháp. Sai lầm này đã được đưa vào một cuốn sách xuất bản năm 1908 và từ đó đến nay vẫn được nhiều người lặp lại.
Mặc dù việc xác định dư luận vào năm 1776 là một thách thức, hầu hết các nghiên cứu đều kết luận rằng từ 15 đến 20 phần trăm người dân thuộc địa phản đối độc lập và khoảng 40 phần trăm tích cực ủng hộ nó. Từ 60.000 đến 80.000 người trung thành với Anh đã bỏ trốn sau Chiến tranh Cách mạng. Rất có thể, phần lớn người dân thuộc địa thuộc nhóm “người đứng giữa”. John Adams (được trích dẫn chính xác) đã viết thư cho một người đồng chí hướng nhiều năm sau đó: “Chúng ta đã luôn chia rẽ, và sẽ mãi mãi như vậy.”
Nếu như những người thuộc địa có quan điểm chia rẽ, thì người Anh cũng vậy. Bảy tuần đã trôi qua kể từ khi Tuyên ngôn được thông qua cho đến khi nó đến tay người dân Anh vào cuối tháng 8 năm 1776; nhưng khi nó được công bố, nó đã chiếm trọn sự chú ý của giới truyền thông Anh. Nhiều tờ báo đã đăng tải toàn văn Tuyên ngôn mà không kèm theo bình luận. Một số tờ khác lại in kèm những nhận xét biên tập, thường mang tính mỉa mai hoặc coi thường. Tạp chí Scots Magazine, có thể coi là tạp chí lâu đời nhất trên thế giới, đã in Tuyên ngôn kèm theo lời bình luận xuyên suốt, chế giễu “các quyền bất khả xâm phạm” là “quyền bất khả xâm phạm của việc nói nhảm”. Tạp chí này còn chỉ trích gay gắt các tác giả của Tuyên ngôn, mỉa mai khẳng định rằng “nói rằng một người còn sống có quyền được là một người còn sống là điều quá thuần túy kiểu Mỹ, quá vô nghĩa” đến nỗi “không có bộ óc nào khác trên mặt đất này có thể chấp nhận ý tưởng đó”.
Một trong những bài phê bình toàn diện nhất được viết vào cuối năm 1776 bởi John Lind, một luật sư tranh tụng có ảnh hưởng tại London, nhà hoạt động chính trị và tác giả các bản tuyên ngôn, người có mối quan hệ mật thiết với Lord North, khi đó là Thủ tướng Anh. Với lập trường phản đối kịch liệt việc Mỹ giành độc lập, ông đã viết một bài bác bỏ đầy gay gắt đối với Tuyên ngôn Độc lập. Bài viết có tựa đề “Phản hồi đối với Tuyên ngôn của Quốc hội Mỹ”, bài viết dài khoảng 130 trang này đã tấn công các khái niệm về luật tự nhiên và quyền tự nhiên của phe Yêu nước, đồng thời phản bác từng điểm một trong số 28 điều oán thán được liệt kê trong Tuyên ngôn.
Nhìn chung, dư luận Anh là sự pha trộn giữa sự hoài nghi, tức giận, cảm giác bị phản bội và sự thiếu hiểu biết về chính trị tại các thuộc địa. Tuy nhiên, các thuộc địa không hoàn toàn thiếu sự ủng hộ. Richard Price, một nhà triết học đạo đức, nhà tư tưởng kinh tế và mục sư Presbyterian người Anh, đã viết một bài phân tích sâu rộng về lập trường của Mỹ vào thời điểm kết thúc Chiến tranh Cách mạng. Cuốn sách dày 152 trang của ông, Những quan sát về tầm quan trọng của Cách mạng Mỹ và các phương tiện để biến nó thành lợi ích cho thế giới, đã lập luận rằng cuộc cách mạng này “mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại – một cuộc cách mạng nhờ đó chính người Anh chính họ sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất.”
Ông viết rằng cuộc chiến đã “mang lại lợi ích to lớn” nhờ “truyền bá những quan điểm chính đáng về quyền con người và bản chất của chính quyền hợp pháp… khơi dậy tinh thần chống lại sự chuyên chế, điều đã giải phóng một quốc gia quốc gia và có khả năng sẽ giải phóng các quốc gia khác… đồng thời tạo điều kiện cho việc thành lập tại Mỹ các hình thức chính phủ công bằng và tự do hơn bất kỳ hình thức nào mà thế giới từng biết đến.” [Chữ nghiêng trong bản gốc.]
Khi chiến tranh kết thúc, ông kết luận: “Cuộc chiến đã mang lại những lợi ích còn to lớn hơn nữa… bằng cách bảo vệ các chính phủ mới khỏi sự hủy diệt mà họ chắc chắn sẽ phải gánh chịu nếu Anh Quốc chiến thắng… bằng cách cung cấp nơi nương náu cho những người bị áp bức ở mọi vùng miền trên thế giới… và đặt nền móng tại đó cho một đế chế có thể trở thành nơi tôn vinh tự do, khoa học và đức hạnh, từ đó có lý do để hy vọng rằng những ân huệ thiêng liêng này sẽ lan tỏa cho đến khi trở thành phổ quát.”
Đối với Price, “Cách mạng Mỹ có thể sẽ chứng minh là bước quan trọng nhất trong quá trình tiến bộ của loài người.” Tuy nhiên, dù tràn đầy hy vọng và lạc quan, Price vẫn cảnh báo về những sai lầm có thể xảy ra trong tương lai. Viết rất chi tiết về những vấn đề này, ông cảnh báo về việc tích lũy nợ công; sự chia rẽ nội bộ giữa các bang; “sự bất bình đẳng thực sự nghiêm trọng” trong việc phân phối tài sản; những mối quan hệ quá mức và sự say mê quá đà đối với các nước châu Âu; tiền giấy; ngân hàng nhà nước; cũng như chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ.
Kết luận của ông đã khơi gợi bản chất của người dân Mỹ – rằng họ không nên đánh mất “những phong cách đạo đức và giản dị, vốn là điều kiện duy nhất để các nền cộng hòa có thể tồn tại lâu dài” và phải tránh xa “sự tinh tế giả tạo, xa hoa và sự bất kính… sự ghen tị thái quá và những mâu thuẫn lợi ích.” Sự khôn ngoan và những lời cảnh báo từ một nhà quan sát nước ngoài về nền tảng của chúng ta, nay đã tròn 250 năm, nhắc nhở chúng ta rằng chính một trong những người con của đất nước này đã đưa ra một lời cảnh báo khác ba năm sau đó khi được hỏi Hiến pháp đã tạo ra loại chính phủ nào. “Một nền cộng hòa,” Benjamin Franklin đáp, “nếu các bạn có thể duy trì nó.” Việc thiết lập một nền cộng hòa là dễ dàng, nhưng việc duy trì nó mới là thách thức thực sự. Ngày nay, đó là THÁCH THỨC thách thức của chúng ta.