Đó là một buổi sáng trời u ám. Thời tiết xấu cùng những rắc rối khác đã khiến việc di chuyển của quân đội Anh bị trì hoãn gần một tuần so với thời hạn quy định trong thỏa thuận giữa Tướng George Washington và Tướng Guy Carlton của Anh, Tổng tư lệnh toàn bộ lực lượng Anh tại Bắc Mỹ. New York đã bị quân Anh chiếm đóng từ tháng 8 năm 1776, khi phe Cách mạng buộc phải rút lui qua sông East River sau thất bại trong trận chiến sau này được biết đến với tên gọi Trận Long Island.

    Bây giờ, bảy năm sau, Hiệp ước Paris đã được ký kết, chấm dứt Chiến tranh Cách mạng, và Carlton được giao nhiệm vụ sơ tán hàng chục nghìn binh lính Anh, những người trung thành với Anh và những người từng là nô lệ ra khỏi thành phố đến các vùng khác nhau của Đế quốc, bao gồm Anh, Quebec, Nova Scotia và vùng Caribê. Sử dụng một đội tàu gồm tàu chiến, tàu buồm nhỏ có vũ trang, tàu khu trục và tàu dân sự, Carlton đã hoàn thành nhiệm vụ khó khăn này vào sáng ngày 25 tháng 11 năm 1783. 

    Trong khi chờ đợi cuộc trở về đầy vinh quang tại Thành phố New York, Washington đã cử Benjamin Tallmadge đi trước để bảo vệ những điệp viên Mỹ có thể đã bị lộ danh tính, đồng thời sắp xếp gặp Tướng Henry Knox và quân đội của ông tại quán rượu Bull’s Head vào sáng cùng ngày. Được xây dựng vào năm 1750, quán rượu này đã bị người Anh chiếm dụng làm trung tâm tuyển mộ cho phe trung thành với Anh. Hôm đó, nơi đây được sử dụng làm trụ sở tạm thời của Washington.

    Khoảng 1 giờ chiều, khi nhận được tin báo rằng người lính Anh cuối cùng đã sơ tán khỏi Pháo đài George, các khẩu pháo đã được chuẩn bị để bắn 13 phát súng chào mừng, làm tín hiệu cho Washington, Knox, Thống đốc George Clinton cùng hàng trăm binh sĩ Quân đội Lục địa, cùng với Lữ đoàn Kỵ binh Nhẹ Westchester, tiến vào và chiếm giữ pháo đài. Tuy nhiên, một sự kiện bất ngờ khác đã làm gián đoạn kế hoạch của họ. 

    Washington đã cho biết ông sẽ không tiến vào Pháo đài George cho đến khi lá cờ Mỹ được treo lên. Trong lúc vội vã sơ tán khỏi pháo đài, quân Anh đã quên không hạ lá cờ Anh xuống. Hay là họ đã làm vậy?  Khi kiểm tra kỹ hơn, các đơn vị tiên phong của Washington phát hiện lá cờ đã được đóng đinh vào cột cờ. Các nỗ lực leo lên cột cờ đều thất bại vì người Anh đã tháo dây cờ (dây dùng để kéo lên và hạ xuống lá cờ) và bôi mỡ lên cột cờ! Sau ba lần cố gắng leo lên cột cờ đều kết thúc bằng việc “trượt xuống”, những tiếng hô hào cắt đổ cột cờ vang lên trong cảnh hỗn loạn. Cuối cùng, một tình nguyện viên đã gắn đinh vào giày và, với sự trợ giúp của một cái thang, leo lên đỉnh cột cờ, xé lá cờ Anh xuống và treo lá cờ Mỹ lên. 

    Cuối cùng, khi nghe tiếng pháo chào mừng, Washington, Clinton cùng đoàn tùy tùng tiến dọc theo đường Chatham đến Pearl, rồi tiếp tục qua Wall Street và Broadway đến Fort George; hai bên đường chật kín đám đông reo hò, bày tỏ sự ủng hộ đối với việc giải phóng thành phố. Tại Yorktown, quân Anh đã bị sỉ nhục bởi thất bại trước một đội quân và dân quân lôi thôi, ăn mặc tồi tàn, nhiều người chỉ mặc những bộ quần áo đơn giản bằng vải dệt thủ công, áo săn thô sơ và giày dép tươm tất, trái ngược hoàn toàn với những đồng minh Pháp và kẻ thù Anh được trang bị đầy đủ. Nhưng tại New York, vào ngày này, phản ứng đối với những người lính lôi thôi, nhếch nhác là sự hân hoan. Theo một người quan sát, “Chúng tôi đã quen với những màn trình diễn quân sự hoành tráng và lộng lẫy từ lâu… những binh lính vừa rời đi được trang bị lộng lẫy với đồng phục đỏ tươi và vũ khí sáng bóng… Ngược lại, những binh lính tiến vào lại ăn mặc tồi tàn, da dẻ sạm nắng và trông thật thảm thương. Nhưng họ là đội quân quân đội của chúng ta, và khi tôi nhìn họ và nghĩ về tất cả những gì họ đã làm và chịu đựng vì chúng ta, trái tim và đôi mắt tôi tràn ngập cảm xúc, và tôi càng ngưỡng mộ và tự hào về họ hơn, bởi vì họ đã bị thời tiết tàn phá và trông thật thê thảm.”

    Buổi tối hôm đó, Thống đốc Clinton đã tổ chức một bữa tiệc chiêu đãi để vinh danh Washington và các sĩ quan của ông tại Fraunces Tavern, một trong những quán rượu sang trọng nhất thành phố. Trước chiến tranh, Fraunces Tavern từng là nơi gặp gỡ của Sons of Liberty cũng như các điệp viên và mạng lưới tình báo. Khi người Anh chiếm New York City vào năm 1776, chủ quán rượu, Samuel Fraunce, đã chạy trốn sang New Jersey, để lại cho con rể trung thành với Anh của mình phụ trách việc kinh doanh. Đến năm 1783, Fraunce đã trở về.

    Vào ngày 4 tháng 12, Washington đã tập hợp các sĩ quan của mình tại Phòng Dài (Long Room) trên tầng hai của Fraunces Tavern để cảm ơn họ vì sự phục vụ trung thành, và nói: “Với trái tim tràn đầy tình yêu và lòng biết ơn, giờ đây tôi xin chia tay các bạn. Tôi chân thành mong rằng những ngày tháng cuối đời của các bạn sẽ thịnh vượng và hạnh phúc như những ngày tháng trước đây của các bạn đã từng vinh quang và danh dự.” Đại tá Benjamin Tallmadge sau đó viết: “Tôi chưa bao giờ chứng kiến một cảnh tượng đau buồn và khóc lóc như vậy… việc chúng tôi sẽ không còn được nhìn thấy khuôn mặt của ông ấy trên cõi đời này nữa dường như là điều tôi hoàn toàn không thể chịu đựng nổi.”

    Sau khi ôm chào từng sĩ quan, Washington lên tàu phà Whitehall để khởi hành đến Annapolis, nơi ông sẽ từ chức quân hàm trước Quốc hội Lục địa, rồi sau đó trở về ngôi nhà của mình tại Mount Vernon. Vào đầu năm 1785, Quốc hội Liên bang đã thuê quán rượu Fraunces làm trụ sở cho Bộ Ngoại giao, Bộ Chiến tranh và Hội đồng Tài chính. Còn về Samuel Fraunce, ông đã thành công và sau này đã trở lại làm việc sau khi nghỉ hưu để nhận chức quản gia trong gia đình của Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, George Washington.