Trong thư gửi nhà báo kiêm nhà xuất bản Hezekiah Niles vào tháng 2 năm 1818, cựu Tổng thống John Adams đã tự đặt ra và trả lời câu hỏi của chính mình: “Chúng ta muốn nói gì khi nhắc đến Cách mạng Mỹ?” ông hỏi. “Có phải chúng ta đang nói đến Chiến tranh Mỹ? Cuộc cách mạng đã diễn ra trước khi chiến tranh bắt đầu. Cuộc cách mạng đã nằm trong tâm trí và trái tim của người dân.” 

    Adams đã đúng. Mầm mống ly khai khỏi Anh Quốc đã được gieo trồng gần hai mươi năm trước khi "phát súng vang dội khắp thế giới" được bắn trên bãi cỏ ở Lexington, Massachusetts vào ngày 19 tháng 4 năm 1775. Quan hệ giữa Anh và các thuộc địa Bắc Mỹ của nước này xấu đi khi Anh áp đặt các loại thuế, quy định và hạn chế mới hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với một dân tộc ngày càng quen với việc tự quản lý và điều hành công việc của chính mình. 

    Cả hai bên trong cuộc tranh chấp đều cố gắng hòa giải những khác biệt của họ. Ngay cả nhiều tháng sau Hiệp ước Lexington và Concord, Quốc hội Lục địa vẫn gửi bản kiến ​​nghị Cành Ô liu tới Vua George III với hy vọng tránh được chiến tranh. Tuy nhiên, chiến sự đã bắt đầu, và nhà vua từ chối đọc bản kiến ​​nghị, tuyên bố rằng các thuộc địa đang nổi loạn và người dân thuộc địa là những kẻ phản bội.

    Cho đến ngày nay, không ai biết ai là người nổ phát súng đầu tiên – một lính Anh hay một dân quân yêu nước. Cả hai bên đều phủ nhận việc khơi mào cuộc xung đột. Đây cũng không phải là lần đụng độ bạo lực đầu tiên của họ. Năm người dân thuộc địa đã thiệt mạng khi lính Anh nổ súng vào đám đông ở Boston năm 1770. Sau đó, những người yêu nước đã đổ mười lăm tấn trà của Anh xuống cảng Boston. Vài tháng trước trận Lexington, những người yêu nước đã tấn công pháo đài William và Mary ở New Hampshire và chiếm giữ thuốc súng, đạn dược, đại bác hạng nặng và các vật tư khác của quân đồn trú. Hai bên đã bắn nhau nhưng cuộc đụng độ không dẫn đến chiến tranh.

    Nhưng những sự kiện ở Lexington và Concord lại khác, và áp lực giữa Anh và các thuộc địa đã lên đến đỉnh điểm. Quân Anh được lệnh lục soát và tịch thu kho thuốc súng được cho là đang cất giữ ở Concord. Việc biết tin các thủ lĩnh phe nổi dậy John Hancock và Samuel Adams đang ở Lexington càng làm tăng thêm căng thẳng. Lo ngại trước khả năng bị bắt giữ, Joseph Warren đã cử Paul Revere, William Dawes và những người khác đi cảnh báo hai người này và vùng nông thôn rằng quân chính quy Anh đang tiến quân. 

Mặc dù được huấn luyện chuyên nghiệp và có số lượng áp đảo so với quân thuộc địa, lực lượng Anh gồm 700 người vẫn không chuẩn bị trước được tốc độ huy động dân quân của vùng nông thôn và chiến thuật chiến đấu mà họ sẽ sử dụng. Quân yêu nước đã được huấn luyện và sẵn sàng đáp trả các mối đe dọa “ngay lập tức”. Khi đến Concord, quân Anh nhận thấy mình đã bị áp đảo về số lượng và bắt đầu rút lui, đối mặt với sự quấy rối từ “dân quân dự bị” ở mọi ngóc ngách.

Cuối cùng, hơn một nghìn quân tiếp viện của Anh đã đến dưới sự lãnh đạo của Tướng Hugh Percy, người cùng chia sẻ niềm tin phổ biến của người Anh rằng những người thuộc địa "hèn nhát và sẽ không bao giờ chiến đấu chống lại Hoàng gia". Họ là "những người đàn ông thô kệch, vô kỷ luật, hèn nhát", "những kẻ hèn nhát tuyệt đối trên trái đất". Nhưng họ chưa từng gặp những người như Samuel Whittemore, người đã 80 tuổi .

    Whittemore từng chiến đấu chống lại quân Pháp năm 1745 với tư cách là Đại úy trong Lữ đoàn Kỵ binh Hoàng gia và sau đó tình nguyện phục vụ trong một trung đoàn thuộc địa trong Chiến tranh Pháp và Ấn Độ. Nhưng ông yêu tự do và muốn con cháu mình sống trong một đất nước độc lập khỏi một vị vua xa xôi, nơi người dân có thể tự quản lý đất nước mình. Ông sẵn sàng chiến đấu vì điều đó.

    Trong khi đang làm việc trên cánh đồng tại trang trại của mình vào ngày 19 tháng 4, Whittemore phát hiện ra lữ đoàn cứu viện của Percy. Nghe tin về cuộc giao tranh ở Lexington và Concord, ông chộp lấy khẩu súng trường, hai khẩu súng lục và thanh kiếm của mình rồi chọn vị trí ẩn nấp sau một bức tường trên phố Mystic ở thị trấn Menotomy (nay là Arlington). Bất chấp lời khẩn cầu của các đồng đội Minutemen yêu cầu ông di chuyển đến nơi an toàn hơn, ông vẫn đứng vững khi quân Anh rút lui tiến đến gần.

    Chờ đến khi quân Anh đứng ngay trước mặt, Whittemore đứng lên và bắn súng trường, giết chết một người. Sau đó, ông bắn súng lục, giết chết một người và làm bị thương nặng một người khác. Không kịp nạp đạn lại cho súng lục hay súng trường, ông rút kiếm và bắt đầu chém loạn xạ trong khi những người lính cầm lưỡi lê bao vây ông. Một người lính chĩa súng trường vào Whittemore, bắn trúng má ông bằng một viên đạn cỡ .69. Bị áp đảo, ông vẫn tiếp tục chiến đấu, vung kiếm loạn xạ cho đến khi bị đánh vào đầu bằng báng súng trường và bị đâm bằng lưỡi lê mười ba nhát trước khi bị bỏ mặc cho chết. 

    Khi quân Anh tiếp tục rút lui, dân làng đã ra ngoài để tìm kiếm người chết và bị thương. Một số người đã chứng kiến ​​sự kháng cự dũng cảm của Whittemore và kinh ngạc khi thấy ông còn sống – không chỉ sống mà còn tỉnh táo và vẫn đang cố gắng nạp đạn cho khẩu súng trường của mình. Được đưa đến phòng cấp cứu tạm thời tại quán rượu Cooper, ông được bác sĩ Nathaniel Tufts điều trị, người tuyên bố rằng Whittemore lẽ ra đã chết vì mất máu, băng bó vết thương cho ông và cho ông về nhà để chờ chết. 

    Nhưng Whittemore lại có những ý tưởng khác. Ông sống thêm mười tám năm nữa, qua đời ở tuổi 98, chứng kiến ​​chiến thắng cuối cùng trước người Anh, việc phê chuẩn Hiến pháp và lễ nhậm chức của George Washington với tư cách là Tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mới.