Vào giữa tháng 10 năm 1824, một du khách người Pháp 67 tuổi đã đến Richmond, Virginia. Ông đã có mặt tại Hoa Kỳ từ ngày 15 tháng 8, theo lời mời do Tổng thống James Monroe khởi xướng và được Quốc hội chính thức thông qua bằng một nghị quyết chung, trong đó có đoạn nêu rõ rằng chuyến thăm của ông “sẽ được Nhân dân và Chính phủ chào đón với niềm tự hào và niềm vui yêu nước.”
Được mệnh danh là “Khách quý của quốc gia”, ông đã ghé thăm Boston, Philadelphia, Thành phố New York và nhiều địa điểm khác trên khắp các bang thuộc vùng New England. Bất cứ nơi nào ông đi qua, hàng nghìn người đều reo hò chào đón. Hàng ngày, các cuộc diễu hành, dạ tiệc, bữa tối và các hoạt động kỷ niệm đủ loại được tổ chức nhằm thể hiện tình cảm sâu sắc của họ và khơi dậy “tinh thần năm 1776”.
Đối tượng của sự sùng kính rộng rãi này chính là Marie-Joseph Paul Yves Roch Gilbert du Motier, Hầu tước de La Fayette, vị thiếu tướng cuối cùng còn sống sót trong Chiến tranh Độc lập Mỹ. Tin tưởng rằng cuộc nổi dậy của mười ba thuộc địa chống lại Anh là chính nghĩa, ông đã lên đường đến Mỹ trước khi tròn 20 tuổi. Với lá thư giới thiệu của Benjamin Franklin, bảy năm kinh nghiệm làm sĩ quan trong Lực lượng Hỏa mai Pháp, cùng lời đề nghị phục vụ không lương, Quốc hội Lục địa đã bổ nhiệm ông làm thiếu tướng vào ngày 31 tháng 7 năm 1777.
Một tuần sau, Lafayette gặp Tướng George Washington lần đầu tiên. Washington đã đến Philadelphia để báo cáo với Quốc hội về tình hình quân sự và được giới thiệu với vị tướng mới được bổ nhiệm của mình. Hai người ngay lập tức trở nên thân thiết, và mối quan hệ giữa họ phát triển như giữa cha và con trai – Washington không có con ruột, còn cha của Lafayette đã qua đời hai năm sau khi cậu bé chào đời.
Chỉ trong vòng một tháng, Lafayette đã tham chiến tại Trận Brandywine, bị thương ở chân, và tiếp tục chiến đấu trong các trận đánh khác; ông tạm thời trở về Pháp để vận động tăng cường hỗ trợ quân sự; rồi quay lại tiếp tục chiến đấu vì sự nghiệp độc lập. Năm 1781, Washington cử Lafayette đến Virginia, nơi ông cùng quân đội của mình liên tục quấy rối lực lượng Anh do Benedict Arnold chỉ huy – người trước đó đã phản bội Washington và phe Cách mạng. Lafayette tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong trận Yorktown, trận chiến đã chấm dứt chiến tranh và đảm bảo độc lập cho Hoa Kỳ. Trong số những người tham gia vào sự kiện đầu hàng nổi tiếng tại Yorktown vào ngày 19 tháng 10 năm 1781, có các tướng quân của Quân đội Lục địa chiến thắng là George Washington và Hầu tước de Lafayette.
Chìa khóa dẫn đến chiến thắng tại Yorktown chính là những thông tin tình báo đáng tin cậy về sức mạnh và chiến lược của quân đội Anh do Tướng Charles Cornwallis chỉ huy. Một nô lệ người Mỹ gốc Phi tên là James đã từ chối đề nghị của Lord Dunmore về việc trao tự do cho những nô lệ nào gia nhập quân đội Anh, và thay vào đó, anh tình nguyện gia nhập Quân đội Lục địa dưới quyền Tướng Lafayette. Với sự cho phép của chủ nhân, William Armistead, James giả vờ là một nô lệ bỏ trốn và gia nhập trại của Arnold ở Portsmouth, Virginia, có lẽ với ý định làm gián điệp cho quân Anh. Do chủng tộc và tình trạng nô lệ của mình, James dễ dàng vượt qua các tuyến phòng thủ, giả vờ do thám Quân đội Mỹ trong khi truyền thông tin quan trọng cho phe Cách mạng, bao gồm việc tuồn các tài liệu ra khỏi trụ sở của Cornwallis, xác nhận rằng vị tướng Anh có ý định ở lại và củng cố Yorktown.
Ba năm sau, vào ngày 21 tháng 11 năm 1784, khi James đang phục vụ Armistead với tư cách là người hầu cận, anh đã gặp lại Lafayette, người vẫn nhớ rõ anh và đã viết một bản tuyên bố xác nhận những “công lao to lớn” của anh trong việc “thu thập thông tin từ trại địch”. Bản tuyên bố tiếp tục: “Anh ấy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và theo tôi, anh ấy xứng đáng nhận mọi phần thưởng mà hoàn cảnh cho phép.” Sau khi nộp hai đơn xin giải phóng nô lệ vì những đóng góp của mình trong chiến tranh, James Armistead được trao tự do vào ngày 1 tháng 1 năm 1787 và lấy Lafayette làm họ của mình.
Tình yêu nồng nàn mà Hầu tước de Lafayette dành cho nước Mỹ cùng những nguyên tắc về bình đẳng, quyền con người và tự trị chỉ bị lu mờ bởi sự phản đối của ông đối với chế độ nô lệ. Ngay từ tháng 2 năm 1783, Lafayette đã sẵn sàng hành động. Từ Tây Ban Nha, ông viết thư cho Washington để thông báo rằng hiệp ước hòa bình giữa Anh và Hoa Kỳ đã được ký kết, đồng thời đưa ra một đề xuất đáng chú ý là hợp tác với Washington trong một “kế hoạch táo bạo” – mua một điền trang nhỏ, giải phóng nô lệ và đối xử với họ như những nông dân thuê đất. Nếu thành công ở Mỹ, dự án như vậy có thể được áp dụng ở Tây Ấn và mở đầu cho con đường dài dẫn đến việc bãi bỏ chế độ nô lệ.
Vài năm sau, Lafayette thông báo với Washington rằng ông đã mua một đồn điền ở thuộc địa Cayenne và “sẽ giải phóng những người da đen của tôi để thực hiện thử nghiệm mà ngài biết là niềm đam mê của tôi.” Washington gửi những lời đáp lại đầy khích lệ và lịch sự nhưng không tham gia, song vẫn bày tỏ hy vọng rằng tinh thần của kế hoạch đó “sẽ lan tỏa rộng rãi trong tâm trí người dân đất nước này, nhưng tôi tuyệt vọng khi nghĩ đến việc được chứng kiến điều đó.”
Ngài Hầu tước đã dành phần đời còn lại, bao gồm cả thời gian ngồi tù và lưu đày, để đấu tranh vì quyền con người và quyền tự trị tại nước Pháp thân yêu của mình. James Armistead Lafayette trở thành một nông dân khá giàu có ở Virginia và trở thành chủ nô lệ. Họ đã có một cuộc hội ngộ ngắn ngủi trong chuyến du hành chiến thắng năm 1824 của Bá tước với tư cách là “Khách của Quốc gia”, khi Bá tước phát hiện James trong đám đông khi đoàn diễu hành đi qua Richmond. Yêu cầu xe ngựa dừng lại, hai người ôm nhau trong khi con trai của Bá tước, George Washington Lafayette, đứng nhìn.
Bản sao lời khai của James Armistead Lafayette.
